Đề bài: Lập dàn ý Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.

Xem thêm: 6 bài Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt hay nhất

Bài giảng: Bếp lửa – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên )

Dàn ý Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt – mẫu 1

1, Mở bài:

   – Giới thiệu tác giả: tác giả Bằng Việt là một trong những nhà thơ xuất sắc trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.

   – Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác năm 1963, là khúc ca cảm động về tình bà cháu, tình cảm gia đình.

2, Thân bài:

a, Hình ảnh bếp lửa vén bức màn kí ức của nhân vật.

   – Bếp lửa khi thì yếu đuối “chờn vờn” trong màn sương, khi lại mạnh mẽ “nồng đượm”.

   – Bếp lửa gợi lên sự hi sinh vất vả của người bà.

   – Điệp từ “một bếp lửa” tạo cảm xúc thương nhớ, bùi ngùi xúc động.

⇒ Ba câu thơ mở ra một không gian kí ức với hình ảnh quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân Việt Nam.

b, Những năm tháng tuổi thơ khó khăn (khổ 2, 4)

   – Nhớ lại một thời kì khó khăn của dân tộc:

   + “năm đói mòn đói mỏi”, “khô rạc ngựa gầy”, “khói hun nhèm mắt”.

⇒ Những hình ảnh tái hiện nạn đói năm 1945, khi nhớ lại thì “sống mũi vẫn còn cay” xúc động.

   + “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”: những năm tháng bị chiến tranh tàn phá.

   + Sự đoàn kết, đỡ đần của xóm làng: hàng xóm giúp bà dựng lại nhà, dù chỉ là “túp lều tranh”. Chiến tranh phá hủy làng mạc nhưng không phá hủy được tình người.

   + Hậu phương và chiến khu: bố đi đánh giặc, bà dặn cháu không kể chuyện ở nhà, phải nói là vẫn bình yên. Đây là tinh thần chung của cả dân tộc, hậu phương luôn ủng hộ, giúp đỡ, làm chỗ dựa cho chiến khu, thầm lặng hi sinh.

⇒ Nghệ thuật: sử dụng thủ pháp biểu cảm kết hợp tự sự, hình ảnh gợi tả.

c, Tình cảm bà cháu (khổ 3, 5, 6, 7)

   – Cả tuổi thơ gắn bó bên bà: “Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa”

   + Bà kể chuyện cho cháu nghe, bầu bạn cùng cháu khi bố mẹ “công tác bận không về”.

   + “bà bảo cháu nghe”, “Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”.

   + Bà còn dạy cháu làm người, vun đắp tâm hồn cháu:

   “Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

   Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

   Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”

⇒ bà dạy cháu biết quan tâm, sẻ chia, yêu thương hàng xóm láng giềng, yêu thương con người.

   – Tình cảm của cháu dành cho bà:

   + Đó là tình cảm kính yêu, tôn trọng, gần gũi và thân thương, thể hiện qua những câu hỏi như “bà còn nhớ không bà?”, qua đoạn thơ cảm thán:

   “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

   Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

   Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

   + Đó là sự khâm phục nghị lực của bà trong khó khăn:

   “Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

   Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

   Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

⇒ bà như một cây đại thụ giữa cuộc đời, không lung lay trước những giông bão khó khăn, luôn giữ niềm tin vào lẽ phải, vào tương lai tươi sáng.

   + Cháu biết ơn những gì bà đã dạy, những yêu thương bà đã cho: cháu biết thương cuộc đời bà vất vả “lận đận”, “biết mấy nắng mưa” trong “mấy chục năm rồi”.

   + Hiện tại cháu đã trưởng thành, có những niềm vui mới nhưng vẫn luôn nhớ về bà: cháu được đi nhiều nơi, có khói từ “trăm tàu”, có ánh lửa từ “trăm nhà” và niềm vui “trăm ngả” nhưng vẫn luôn canh cánh trong lòng câu hỏi “Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?”

⇒ Câu hỏi tu từ cho thấy người cháu vẫn không hề quên hình ảnh bà cùng bếp lửa.

d, Hình ảnh bếp lửa xuất hiện trong cả bài thơ:

   – Bếp lửa trở thành biểu tượng cho cuộc sống ở bên bà, cho cuộc sống vất vả nhưng giàu tình yêu thương. Bếp lửa gắn liền với bà: nhóm bếp không chỉ là công việc phục vụ nhu cầu sống hàng ngày, nó còn như nhóm lên những điều tuyệt diệu, nhóm lên hi vọng và yêu thương. Đến mức cháu phải reo lên: “Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

   – Từ hình ảnh có thực là bếp lửa, ngọn lửa, tác giả xây dựng lên thành hình ảnh biểu tượng:

   + Ngọn lửa từ bếp lửa ⇒ ngọn lửa trong lòng bà, chứa niềm tin dai dẳng.

   + Hành động nhóm bếp: từ nhóm được lặp lại 3 lần, nhấn mạnh sự hình thành những phẩm chất tốt đẹp trong con người cháu nhờ bà dạy bảo.

   – Hình ảnh bếp lửa không chỉ tượng trưng cho một nếp văn hóa của dân tộc mà còn trở thành một “người bạn”, “người đồng hành” của người cháu, luôn nhắc nhở cháu về sự hi sinh và yêu thương của bà, của cả dân tộc cho thế hệ trẻ.

3, Kết bài

   – Tổng kết về nội dung: bài thơ thể hiện một thời khó khăn của đất nước, thể hiện tình cảm gia đình thiêng liêng.

   – Nghệ thuật: nghệ thuật xây dựng hình ảnh đa nghĩa, nghệ thuật điệp từ, điệp ngữ, tự sự kết hợp biểu cảm.

Dàn ý Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt – mẫu 2

I. Mở bài

Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

    + Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỉ niệm đẹp và ước mơ tuổi trẻ

    + Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác năm 1963 khi tác giả là du học sinh Liên Xô

Chủ đề bài thơ gợi lại những kỉ niệm về người bà và tình bà cháu sâu sắc, thấm thía

II. Thân bài

1. Những kỉ niệm tuổi thơ và tình bà cháu

– Dòng hồi tưởng về bà bắt nguồn từ hình ảnh bếp lửa

    + Bếp lửa “chờn vờn sương sớm” – bếp lửa thực

    + Bếp lửa “ấp iu nồng đượm” diễn tả sự dịu dàng, ấm áo, kiên nhẫn của người nhóm lửa

    + Biện pháp điệp từ (điệp từ “bếp lửa”) gợi lên hình ảnh sống động lung linh nhưng hết sức thân thuộc gần gũi với người cháu

→ Hình ảnh bếp lửa làm trỗi dậy dòng kí ức về bà và tuổi thơ

– Kỉ niệm về tuổi thơ nhiều gian khổ, thiếu thốn

    + “Đói mòn đói mỏi” người cháu thấy ám ảnh bởi nạn đối và quá khứ đau thương của dân tộc

    + Ấn tượng về khói bếp hun nhèm mắt cháu để khi nghĩ lại “sống mũi còn cay”

    + Dòng hổi tưởng, kỉ niệm gắn với âm thanh tiếng tu hú của chốn đồng nội: tiếng tu hú được nhắc tới 5 lần trong bài khi thẳng thốt, lúc khắc khoải, mơ hồ tất cả để gợi lên không gian mênh mông, bao la, buồn vắng đến lạnh lùng

    + Tâm trạng của cháu vì thế cũng tha thiết, mãnh liệt hơn bởi sự đùm bọc, che chở của bà

– Tuổi thơ khó khăn gian khổ nhưng cháu được mà yêu thương,che chở

    + ”bà dạy”, bà chăm” thể hiện sâu đậm tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương vô bờ và sự chăm chút của bà đối với cháu

    + Ngay cả trong gian khó, hiểm nguy của chiến tranh bà vẫn vững vàng – phẩm chất cao quý của những người mẹ Việt Nam anh hùng ( Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh)

→ Qua dòng hồi tưởng về bà, những dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan xen nhuần nhuyễn giữa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự, nỗi nhớ của người cháu thể hiện tình yêu thương vô hạn đối với bà

2. Những suy ngẫm chiêm nghiệm về cuộc đời của bà cũng như hình tượng bếp lửa

Suy ngẫm về cuộc đời bà

– Từ những kỉ niệm, hình ảnh bếp lửa luôn gắn với hình ảnh người bà

    + Hình ảnh bếp lửa kết tinh trong hình ảnh ngọn lửa: ngọn lửa của tình yêu thương, sự hhi sinh luôn ủ sẵn trong lòng bà để làm sáng lên hy vọng, ý chí

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

    + Điệp ngữ “một ngọn lửa” nhấn mạnh tình yêu thương ấm áp bà dành cho cháu, người bà nhen nhóm những điều thiện lương tốt đẹp đối với cháu

→ Hình ảnh người bà trong lòng cháu là người thắp lửa, giữ lửa và truyền lửa, truyền niềm tin, sức sống tới thế hệ tương lai

– Sự tần tảo, hi sinh của bà thể hiện: “ Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”: sự chiêm nghiệm của cháu về cuộc đời bà

    + Cuộc đời bà đầy những gian truân, vất vả, lận đận trải qua nắng mưa tưởng như không bao giờ dứt

    + Điệp từ “nhóm” lặp lại bốn lần: người bà đã nhóm lên, khơi dậy những yêu thương, kí ức và giá trị sống tốt đẹp trong lòng người cháu

– Hình ảnh bếp lửa kết tinh thành hình ảnh ngọn lửa chất chứa niềm tin, hy vọng của bà

    + Người cháu như phát hiện ra điều kì diệu giữa cuộc sống đời thường “Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa” : người cháu thấm nhuần được tình yêu thương và đức hi sinh của bà

3. Nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi về người bà

    + Lời tự bạch của đứa cháu khi trưởng thành, xa quê hương: người cháu vẫn cảm thấy ấm áp bởi tình yêu thương vô bờ của bà

    + Kết thúc bài thơ tác giả tự vấn “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” : niềm tin dai dẳng, nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng người cháu

III. Kết bài

Tác giả rất thành công trong việc sáng tạo ra hình tượng mang ý nghĩa thực, mang ý nghĩa biểu tượng: bếp lửa

– Kết hợp miêu tả, biểu cảm, tự sự phù hợp với dòng hồi tưởng và tình cảm của cháu

– Bài thơ chứa đựng triết lý, ý nghĩa thầm kín: những điều thân thiết của tuổi thơ của mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình cuộc đời, tình yêu thương và lòng biết ơn chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, quê hương

Xem thêm bài viết hay:  Kể tóm tắt truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng hay nhất – Văn mẫu lớp 6

Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt – mẫu 1

Mỗi chúng ta ai mà chẳng có quê hương, ai mà chẳng có một thời đong đầy kỉ niệm để nhớ, để thương, để là động lực không ngừng phấn đấu. Nhà thơ Bằng Việt trong những năm tháng học tập xa nhà vẫn da diết nhớ quê hương, với khói bếp lửa cay nồng hun nhoè mắt, cùng người bà tần tảo sớm hôm nuôi dạy cháu. Tất cả những kí ức đẹp đẽ của tuổi thơ đó đã được tác giả dồn nén trong từng câu chữ qua bài thơ Bếp lửa.

Bếp lửa là bài thơ được in trong tập thơ Hương cây, bếp lửa, in chung cùng nhà thơ Lưu Quang Vũ. Có thể nói Bếp lửa là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Bằng Việt. Ông sáng tác bài thơ này vào năm 1963, khi đang học tập tại Liên Xô.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh ngọn lửa bập bùng cháy, ngọn lửa thực mà cũng chất chứa biết bao ý nghĩa:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớmMột bếp lửa ấp iu nồng đượmCháu thương bà biết mấy nắng mưa

Một khung cảnh đơn sơ mà hết sức thân thuộc hiện lên trước mắt người đọc. Ngọn lửa cháy bập bùng kia gợi nhắc biết bao nhớ thương, lòng biết ơn của người cháu xa xứ đối với bà. Hai từ “ấp iu” gợi lên hình ảnh đôi bàn tay tảo tần của bà ngày ngày nhen nhóm ngọn lửa, thức khuya dậy sớm chăm cho cháu từng miếng ăn giấc ngủ. Và để từ đó trong cháu vỡ òa cảm xúc thương yêu bà vô tận:

“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” .

Để rồi sau đó, biết bao kỉ niệm ùa về trong lòng nhà thơ, đó là những kỉ niệm mà tác giả chẳng thể quên. Về một nạn đói khủng khiếp đã cướp đi sinh mạng biết bao người dân Việt Nam:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khóiNăm ấy là năm đói mòn đói mỏiBố đi đánh xe khô rạc ngựa gầyChỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháuNghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay

Khi mà hàng loạt người chết đói, thì bà vẫn kiên cường, tần tảo sớm hôm, cho cháu củ khoai, mót từng củ sắn, dành trọn miếng ăn cho đứa cháu vượt qua cơn đói cồn cào. Nỗi ám ảnh đó vẫn lần sâu trong tâm chí tác giả, cái đói ghê rợn ấy, mà giờ chỉ cần nghĩ lại sống mũi cháu đã cay. Cái cay ấy không chỉ là mùi khói, mà cái cay ấy còn là những giọt nước mắt thương xót cho những nỗi cơ cực, vất vả mà bà phải trải qua, là giọt nước mắt tri ân với tấm lòng bà dành cho cháu. Chỉ cần có bà thì mọi giông bão ngoài kia bà cũng chở che để vượt qua, bảo vệ cho cháu.

Tám năm xa cha mẹ, Bằng Việt sống cùng bà, cũng là tám năm bà bên cháu bảo ban, nuôi dạy cháu nên người:

“Mẹ cùng cha công tác bận không về,Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu họcNhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

Câu thơ mà thực như là lời kể lời giãi bày của tác giả, nhưng cũng chỉ cần có vậy thôi đã nói lên tấm lòng, sự tận tụy của bà đối với cháu. Bà đã trở thành người cha, người mẹ dạy cháu khôn lớn, nên người. Cấu trúc “ba-cháu” cho thấy sự gắn bó khăng khít giữa. Nếu không có bà ở bên có lẽ cũng sẽ không có cháu thành công, nên người của thời điểm hiện tại. Tác giả đã dồn hết lòng kính yêu, sự tôn trọng dành cho người bà của mình.

Sang đến khổ thơ tiếp theo, khung cảnh chiến tranh trở nên khủng khiếp hơn, khi giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi, để trơ trọi lại chỉ là những mảnh tro tàn. Nhưng bà không khuỵu ngã, mà vẫn vô cùng kiên cường, dưới sự giúp đỡ của hàng xóm dựng lại túp lều tranh cho hai bà cháu có chỗ trú mưa trú nắng. Không chỉ vậy, sợ các con công tác ngoài chiến tuyến lo lắng, bà còn dặn trước Bằng Việt: “Bố ở chiến khu bố còn việc bố/ Mày có viết thư chớ kể này kể nọ/ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên” . Những lời dặn dò ấy đã nói lên hết tấm lòng hi sinh cao cả của bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Không chỉ chăm lo, bảo ban cháu, bà còn nhóm lên trong cháu những tình cảm thiêng liêng đẹp đẽ:

“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

Khổ thơ với điệp từ nhóm vang lên bốn lần, đã tạo nên một khung cảnh thiêng liêng, ấm cúng và đầy tình yêu thương. Bếp lửa ấy dạy cháu biết chia sẻ, yêu thương những người xung quanh, bếp lửa ấy giúp cháu sống có mơ ước, khát vọng, vun đắp mơ ước cho cháu. Cũng bởi vậy, mà Bằng Việt phải tốt lên : “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa” . để khẳng định ý nghĩa vai trò của bếp lửa, hay chính của bà đối với cuộc đời mình. Để rồi ngọn lửa của hơi ấm tình thương theo cháu đi muôn ngả, giúp cháu vươn đến thành công trong bước đường tương lai. Dù đã đi xa, đến những nơi đẹp đẽ, cuộc sống sung túc nhưng cháu vẫn không bao giờ quên hình ảnh bà, và vẫn tự nhắc nhở bản thân:

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

– Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?

Câu hỏi kết lại bài thơ như một lời nhắc nhở khắc khoải, khiến người đọc lưu giữ lại ấn tượng sâu đậm. Bằng ngôn từ mộc mạc, giản dị và tràn đầy cảm xúc Bằng Việt đã bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với bà. Đồng thời với bài thơ này cũng gửi gắm thông điệp về ý nghĩa tầm quan trọng của gia đình đối với mỗi người. Chúng ta phải nâng niu, trân trọng tình cảm thiêng liêng, cao quý ấy.

Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt – mẫu 2

Mỗi chúng ta ai cũng có một tuổi thơ, đó là những năm tháng êm đềm nhất mà qua rồi chúng ta luôn nhớ về. Trong kí ức tuổi thơ của nhà thơ Bằng Việt có sự xuất hiện của người bà hiền hậu bên bếp lửa. Những năm tháng hồn nhiên ấy, bà đã dạy cho ông biết bao điều. Bài thơ Bếp lửa như một lời cảm ơn sâu sắc mà tác giả dành tặng cho người bà của mình. Chính bà đã nuôi dạy nhà thơ nên người trong những năm tháng bố mẹ của ông đi công tác xa không về.

Nhà thơ Bằng Việt trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, ngôn ngữ thơ của ông dung dị mà lay động lòng người. Ông làm thơ từ khi còn trẻ. Bài thơ Bếp lửa là một sáng tác khi ông mới 19 tuổi và lúc đó đang du học ở Liên Xô. Bài thơ là một chuỗi những kỉ niệm của tác giả về người bà thân yêu của mình. Qua đó, tác giả cũng bày tỏ lòng biết ơn thành kính đối với bà, đối với quê hương nơi ông đã sinh ra và lớn lên. Nỗi nhớ về bà được khơi gợi từ một hình ảnh, một món đồ quen thuộc đối với tất cả người dân Việt Nam thời bấy giờ đó chính là bếp lửa. Chắc hẳn ở nơi phương xa, tác giả đã nhớ da diết ngọn lửa sáng bừng và ấm áp tình người của bếp lửa quê nhà:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớmMột bếp lửa ấp iu nồng đượmCháu thương bà biết mấy nắng mưa

Ngay từ câu mở đầu tác giả đã có sự liên tưởng vô cùng chính xác đó là sự liên tưởng khói bếp với sương sớm. Khói bếp “chờn vờn” và lan tỏa khắp mọi nơi giống như sương mù buổi sớm vậy. Nó khiến cho cảnh vật trở nên mờ ảo và không rõ ràng. Thế nhưng nó lại chứa biết bao nhiêu nồng đượm của tình người. Bếp lửa ôm vào lòng mình những tình cảm đậm sâu cũng giống như tình thương mà người cháu dành cho người bà của mình. Người bà đã không quản ngại nắng mưa để nuôi cháu nên người. Thông qua tình thương của cháu, người bà xuất hiện một cách thật nhẹ nhàng. Kí ức mờ ảo như sương khói nhưng cảm xúc thì vụt sáng như ngọn lửa. Từ đây, tình cảm của hai bà cháu dần dần hiện lên một cách đầy rõ nét:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khóiNăm ấy là năm đói mòn đói mỏiBố đi đánh xe khô rạc ngựa gầyChỉ nhớ khói, hun nhèm mắt cháuNghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay

Những câu thơ là sự hoài niệm của Bằng Việt về những năm tháng tuổi thơ khi ông còn sống trong sự bao bọc, chở che của bà. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ thơ mộc mạc, bình dị và cách xưng hô “cháu” khiến người đọc có cảm giác như đây là một lá thư tâm tình mà tác giả muốn gửi tới bà của mình. Tuổi thơ của những đứa trẻ lớn lên thường có hình ảnh của cô tiên, ông bụt trong những câu chuyện cổ tích. Còn câu chuyện cổ tích mà tác giả đang kể có hình ảnh của bà và bếp lửa. Năm ấy là những năm 1945 đói khổ nhất của người dân nước Việt. Con người gầy rộc đi vì đói, chỉ còn lại da bọc xương rồi họ cũng chết lả ở khắp các ngả đường. Thế nhưng, nhờ có bà, nhờ có ánh lửa bập bùng mà tác giả đã xua tan được cái không khí rợn người ấy. Ai đã từng đun bếp lửa thì sẽ thấy, khói bếp bay vào mắt, vào mũi cay xè. Tác giả hẳn cũng đã từng bị khói bay vào như vậy. Để bây giờ mỗi khi nhớ lại những năm tháng ấy, ông vẫn còn cảm giác như sống mũi cay vì khói. Mùi của khói đã làm át đi cái mùi tử khí trên khắp các phố phường. “Sống mũi cay” cũng là một cách nói giúp tác giả biểu thị niềm xúc động đang trào dâng trong lòng mình.

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm bếpTu hú kêu trên những cánh đồng xaKhi tu hú kêu bà còn nhớ không bàBà hay kể chuyện những ngày ở HuếTiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

Xem thêm bài viết hay:  Top 5 cách mở bài Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lính trong bài Tây Tiến hay nhất

8 năm đối với tác giả Bằng Việt đó là một khoảng thời gian dài. Trong suốt 8 năm ấy, ông đã cùng với bà nhóm lên biết bao nhiêu ngọn lửa. Đó là ngọn lửa của bếp nhưng cũng là ngọn lửa của hy vọng, ngọn lửa của tình yêu. Tình yêu dành cho người bà của mình khiến tác giả nhớ về quê hương tuổi thơ. Ông bắt đầu liên tưởng đến tiếng chim tu hú. Đối với người nông dân, tiếng chim tu hú là sự báo hiệu của đồng lúa chín. Còn nhớ nhà thơ Tố Hữu cùng từng viết “Khi con Tu Hú gọi bầy, Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần”. Tiếng tu hú còn gắn liền với tuổi thơ của tác giả là bởi mỗi khi chim cất tiếng kêu là “bà hay kể chuyện những ngày ở Huế”. Tiếng tu hú vì vậy mà trở nên da diết hơn. Tiếng tu hú kêu được tác giả nhắc đi nhắc lại tới 3 lần khiến người đọc cảm giác như cũng đang nghe thấy tiếng kêu quanh đâu đây. Tiếng kêu tu hú làm nỗi nhớ thêm trải dài và rộng.

Những năm đói kém, người gần gũi với tác giả nhất là bà. Đến 8 năm kháng chiến chống Mĩ, bà cũng vẫn là người ở bên khi mà:

Mẹ cùng cha bận công tác không vềCháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bố mẹ thì đi công tác, chiến tranh thì ác liệt khiến hai bà cháu phải đi tản cư từ nơi này sang nơi khác. Thế nhưng tác giả lại không hề thấy buồn mà ngược lại, trong lòng ông là một niềm hạnh phúc khôn nguôi. Hạnh phúc bởi mỗi ngày ông đều được cùng bà nhóm bếp. Bà đã thay cha thay mẹ để là cánh chim, là nhành hoa chăm sóc cho cháu và nâng đôi cánh giúp cháu bay đi thật xa. Bà chính là người thầy đầu tiên dạy cho cháu những điều hay, lẽ phải trong cuộc sống. Lúc cháu còn nhỏ, bà chính là chỗ dựa vững chắc cả về tinh thần lẫn vật chất. Vậy nên bây giờ khi ở cách xa bà nửa vòng trái đất, nghĩ đến việc bà phải làm tất cả mọi thứ một mình, tác giả đã bật lên câu hỏi “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà”. Câu hỏi tu hú nhưng là hỏi chính mình thể hiện một nỗi nhớ mong bà sâu sắc. Cặp hô ứng bà – cháu được lặp đi lặp lại nhiều lần khiến người có cảm giác hai bà cháu lúc nào cũng sóng đôi bên nhau không rời.

Chiến tranh đã khiến con người ta rơi vào cảnh đói khổ như vậy. Cuộc sống của hai bà cháu cũng có những thời điểm dường như rơi vào bế tắc khi nhà bị cháy, gia đình thì ly tán mỗi người một nơi thế nhưng người bà vẫn lạc quan và nghị lực:

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụiHàng xóm bốn bên trở về lầm lũiĐỡ đần bà dựng lại túp lều tranhVẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninhBố ở chiến khu bố còn việc bốMày viết thư chớ kể này kể nọCứ bảo nhà vẫn được bình yên!

Bản thân mình dù đang gặp khó khăn là túp lều tranh cũ bị cháy rụi nhưng bà vẫn vô cùng bình tĩnh. Bà cũng lo lắng nhưng là lo con biết chuyện rồi không yên tâm làm việc. Vì vậy mà bà đã dặn người cháu không được nhắc gì đến chuyện này. Có thể thấy tấm lòng của người bà, người mẹ thật vĩ đại khi lúc nào cũng hy sinh vì con, vì cháu. Ở đây, bà đã không còn là bà của riêng cháu nữa mà là biểu tượng chung cho người phụ nữ Việt Nam giàu đức hy sinh.

Những câu thơ tiếp theo, tác giả đã diễn tả ngọn lửa trong lòng bà:

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵnMột ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

Nói đến ngọn lửa là thấy sự bùng cháy rực rỡ. Nó cũng giống như tấm lòng của bà, giống như niềm tin của bà. Chỉ cần có một ngọn mồi nhỏ là nó sẽ bùng cháy lên. Vì vậy mà hễ đi đâu, chỉ cần nhìn thấy ngọn lửa là cháu sẽ nhớ về bà.

Đến cuối bài thơ, hình ảnh bếp lửa ấp iu nồng đượm được nhắc lại thêm một lần nữa như là sự khẳng định về thứ tình cảm sâu sắc giữa bà và cháu:

Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm

Nhóm lửa nhưng đồng thời cũng là nhóm lên tình yêu thương, đùm bọc giữa con người với con người. Bài thơ là sự nhắc nhở của người bà dành cho người cháu phải biết nhớ về cội nguồn, nhớ về những năm tháng gian khó, nhớ về những con người đã ở bên giúp đỡ ta. Nhóm bếp lửa là “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…”

Bà là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của cháu. Vì vậy mà dù cháu đã đi xa thì vẫn không nguôi nỗi nhớ về bà:

Giờ cháu đã đi xa.Có ngọn khói trăm tàuCó lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngảNhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhởSớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

Giữa mùa đông lạnh giá của nước Nga, người cháu đã được sưởi ấm bằng chính tình cảm dành cho bà của mình. Có thể thấy, người cháu nay đã trưởng thành, đã biết lo nghĩ nhiều hơn cho bà và vẫn nhớ như in những lời bà dạy.

Đọc bài thơ lên, người đọc có cảm giác như đang được ngồi bên bếp lửa và nghe một câu chuyện cổ tích cảm động về tình bà cháu. Bài thơ đã truyền lửa tới cho bao nhiêu thế hệ giúp khơi dậy tình yêu thương trong mỗi con người.

Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt – mẫu 3

Tuổi thơ mỗi con người gắn với muôn vàn kỉ niệm bên người thân, bạn bè, bên cạnh đó là những cảm xúc, những tình cảm dành cho nhau để rồi khi mai sau lớn lên dùng tình cảm kỉ niệm ấy tiếp tục hành trang cuộc đời. Rất nhiều tác phẩm văn học thơ, truyện ngắn được các tác giả lấy cảm hứng từ tình cảm thiêng liêng ấy, tình cảm vợ chồng, tình mẹ con, tình đồng chí, tình yêu quê hương đất nước,… Tác giả Bằng Việt đã sáng tác bài thơ Bếp Lửa với tình cảm và niềm nhung nhớ dành cho người bà của mình khi đang du học tại Liên Xô vào năm 1963. Hình ảnh đứa cháu cùng người bà đã trải qua cuộc sống khổ cực nhưng tràn ngập tình yêu thương, chăm sóc, quan tâm, che chở trong những ngày bố mẹ đi làm xa và niềm hạnh phúc bên bếp lửa ấm áp tình thương.

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớmMột bếp lửa ấp iu nồng đượmCháu thương bà biết mấy nắng mưa”

Hình ảnh bếp lửa được khắc họa lên từ ba câu thơ đầu qua điệp ngữ “một bếp lửa” và từ láy “chờn vờn” khiến ta có thể hình dung ra được một khung cảnh đơn sơ, giản dị nhưng ấm áp, đầy ấp tình cảm. Ngọn lửa từ bếp ấp ôm bao niềm nhung nhớ về bà, chứa đựng biết bao kỉ niệm của người cháu nhỏ và bà. Người bà ân cần nhóm nhen ngọn lửa tình cảm ấy, cũng giống như đôi tay bà chăm sóc cho cháu nhẹ nhàng quan tâm, hình ảnh người bà như làn khói từ bếp vào mỗi buổi sớm mai, hình ảnh khổ cực chăm nuôi của bà dãi dầu mưa nắng càng thắp lên trong lòng người cháu rõ rệt vết hằn nỗi nhớ. Từ hai câu đầu qua hình ảnh bếp lửa mỗi sáng đã được tác giả khắc họa lên một bếp lửa chan chứa kỉ niệm, một bếp lửa đầy ấp tình yêu, một bếp lửa sáng rực lên hình ảnh bà. Đến câu tiếp theo bao nhiêu nỗi niềm như phút chốc vỡ òa “cháu thương bà biết mấy nắng mưa”, tác giả đau lòng, xót xa trước nỗi nhớ về hình ảnh bà dù mưa dù nắng nhưng vẫn lo cho cháu đầy đủ từng cái ăn cái mặc, gian truân cuộc đời bà vì cháu mà trải qua không một lời nói, bà âm thầm vì cháu mà làm mọi việc, đều là những hy sinh thầm lặng từ người bà kính yêu. Từ đây ta thấy rằng trong trái tim tác giả hình ảnh người bà thiêng liêng biết là bao, có cả một vùng trời thương nhớ về người bà, một câu “cháu thương bà” cũng sẽ đọng lại trong ta một ý nghĩa sâu sắc.

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khóiNăm ấy là năm đói mòn đói mỏiBố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầyChỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháuNghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

Ở đoạn này, kỷ niệm không phải là hình ảnh nhẹ nhàng như “chờn vờn sương sớm” hay “ấp iu nồng đượm” mà là những kỉ niệm ám ảnh trong tâm trí tác giả, đứa cháu bốn tuổi cùng bà cơ cực trải qua nạn đói năm 1945. Không khí u ám, lầm than của nạn đói nhờ có người bà kính yêu đã được xoa dịu đi phần nào, bà tần tảo sớm hôm mót từng củ khoai, đào từng củ sắn để cháu ăn đỡ đói. Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” nghe như tiếng kêu xé lòng, nỗi ám ảnh của một đứa trẻ hằng sâu trong tâm trí là nỗi sợ hãi. Không như bao người khi nghĩ về tuổi thơ của mình là mảng màu hồng, thì với tác giả đó lại là mảng màu xám pha cả màu đỏ của máu từ những nỗi đau của đói khổ, cái đói ghê rợn, cái đói lịch sử đã làm chết hơn hai triệu con người. Nhưng có bà luôn bên cạnh che chở, có khói bếp làm nhòa đi phần nào đau thương từ nạn đói, kỉ niệm vẫn mang chút hơi ấm, làm quên đi nỗi khốn khổ. Chi tiết “khói hun nhèm mắt cháu” để thấy được đứa trẻ bốn tuổi ấy cố lấp đi những ám ảnh của việc đói mòn mỏi bằng khói bếp của bà, và chi tiết “sống mũi còn cay” cay do mùi khói nghi ngút ấy đang cố che giấu đi mùi máu tanh ở các ngõ ngách, cay vì đứa trẻ ấy đã phải chịu cảnh “đói mòn đói mỏi” đang dần len lỏi vào từng mảng ký ức thơ ngây, mang theo nỗi đáng sợ của nạn đói, mang theo cả cảm giác thèm từng củ khoai, củ sắn, khi ấy những món ăn đơn sơ cũng trở thành “mỹ vị nhân gian”.

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửaTu hú kêu trên những cánh đồng xaKhi tu hú kêu bà còn nhớ không bàBà hay kể chuyện những ngày ở HuếTiếng tu hú sao mà tha thiết thế”

Xem thêm bài viết hay:  Top 200 Văn tả cây cối lớp 5 (hay nhất)

“Tám năm ròng” khoảng thời gian dài đằng đẵng cháu cùng bà vẫn luôn nhóm lên ngọn lửa yêu thương, nồng ấm, ngọn lửa của sự sống, khoảng thời gian đó dẫu trải qua khó khăn nhọc nhằn nhưng chỉ cần có bà vẫn thật bình yên. Tuổi thơ người cháu gắn với bà với bếp lửa yêu thương, gắn với cả tiếng tu hú kêu trên những cánh đồng, như thúc giục người nông dân mau ra ruộng thu hoạch thoát khỏi sự đói khát. Bên cạnh đó, khi tiếng tu hú kêu cũng như một tiếng chuông báo rằng: “Bà ơi! Bà kể chuyện cháu nghe.” Từ “tu hú” được lặp lại ba lần như khẳng định nỗi nhớ của tác giả vì trong văn học nghệ thuật, tiếng chim tu hú là biểu tượng của một sự khắc khoải nhớ nhung da diết khôn nguôi. Tiếng tu hú trở thành một khoảng trời kỷ niệm nhẹ nhàng đậm tình yêu thương giữa tác giả và bà.

“Mẹ cùng cha công tác bận không về,Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu họcNhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

Những câu thơ đơn sơ mộc mạc ấy vẫn nói lên được sự tận tụy của bà chăm lo cho cháu khi “mẹ cùng cha công tác bận không về”. Hình ảnh bà như một người cha một người mẹ lo lắng chăm bẫm cho con mình, cũng như một người thầy dạy bảo học trò, bà cũng là cả một bầu trời yêu thương của tác giả. Cấu trúc “bà-cháu” thể hiện một tình yêu sự gắn kết của người bà với người cháu. Hình ảnh “bà dạy cháu làm”, bà dạy cháu cháu cách làm người, dạy cháu tự lập cho cuộc sống của mình, bà dạy cháu yêu thương gia đình, và hình ảnh “bà chăm cháu học” bà dạy cho cháu từng nét chữ, bà cho cháu kiến thức mai sau giúp ích cho đất nước. “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc” đứa cháu nhỏ lo lắng cho bà, nhìn thấy bà cực nhọc đứa cháu cùng bà nhóm lên bếp lửa giúp bà đỡ đi phần nào nhọc nhằn. Sau đó lại là lời trách tu hú của đứa trẻ thơ ngây, trách tu hú sao lại chẳng đến ở với bà, giúp bà đỡ đần công việc, để bà đỡ cô quạnh buồn tủi, mà tu hú cứ mãi ham chơi trên những cánh đồng kia.

Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt – mẫu 4

Trong cuộc đời, ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn nhiên, trong sáng. Những kỉ niệm ấy là những điều thiêng liêng, thân thiết nhất, nó có sức mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và rộng của cuộc đời. Bằng Việt cũng có riêng một kỉ niệm, đó chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà nhóm lên cái bếp lửa thân thương. Không chỉ thế, điều in đậm trong tâm trí của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm của hai bà cháu. Chúng ta có thể cảm nhận điều đó qua bài thơ Bếp lửa của ông.

Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Bài thơ Bếp lửa được ông sáng tác năm 1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê hương, đất nước. Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. ở nơi đất khách quê người, bắt gặp hình ảnh bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớmMột bếp lửa ấp iu nồng đượmCháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Hình ảnh chờn vờn gợi lên những mảnh kí ức hiện về trong tác giả một cách chập chờn như khói bếp. Bếp lửa được thắp lên, nó hắt ánh sáng lên mọi vật và tỏa sáng tâm hồn đứa cháu thơ ngây. Bếp lửa được thắp lên đó cũng là bếp lửa của cuộc đời bà đã trải qua biết mấy nắng mưa. Từ đó, hình ảnh người bà hiện lên. Dù đã cách xa nửa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được sự vỗ về, yêu thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà. Trong cái khoảnh khắc ấy, trong lòng nhà thơ lại trào dâng một tình yêu thương bà vô hạn. Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên được và cũng chính từ đó, sức ấm và ánh sáng của tình bà cháu cũng như của bếp lửa lan tỏa toàn bài thơ.

Khổ thơ tiếp theo là dòng hồi tưởng của tác giả về những kỉ niệm của những năm tháng sống bên cạnh bà. Lời thơ giản dị như lời kể, như những câu văn xuôi, như thủ thỉ, tâm tình, tác giả như đang kể lại cho người đọc nghe về câu chuyện cổ tích tuổi thơ mình. Nếu như trong câu chuyện cổ tích của những bạn cùng lứa khác có bà tiên, có phép màu thì trong câu chuyện của Bằng Việt có bà và bếp lửa. Trong những năm đói khổ, người bà đã gắn bó bên tác giả, chính bà là người xua tan bớt đi cái không khí ghê rợn của nạn đói 1945 trong tâm trí đứa cháu. Cháu lúc nào cũng được bà chở che, bà dẫu có đói cũng để cháu không thiếu bữa ăn nào, bà đi mót từng củ khoai, đào từng củ sắn để cháu ăn cho khỏi đói:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khóiNăm ấy là năm đói mòn đói mỏiBố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói, hun nhèm mắt cháuNghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

Chính mùi khói đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngách. Cũng chính cái mùi khói ấy đã quyện lại và bám lấy tâm hồn đứa trẻ. Dù cho tháng năm có trôi qua, những kí ức ấy cũng sẽ để lại ít nhiều ấn tượng trong lòng đứa cháu để rồi khi nghĩ lại lại thấy sống mũi còn cay. Là mùi khói làm cay mắt người người cháu hay chính là tấm lòng của người bà làm đứa cháu không cầm được nước mắt?

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm bếpTu hú kêu trên những cánh đồng xaKhi tu hú kêu bà còn nhớ không bàBà hay kể chuyện những ngày ở HuếTiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

Cháu cùng bà nhóm lửa, nhóm lên ngọn lửa của sự sống và tình yêu bà cháy bỏng của một cậu bé hồn nhiên, trong trắng như một trang giấy. Chính hình ảnh bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên tưởng khác, một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ. Đó là tiếng chim tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu như giục giã lúa mau chín, người nông dân mau thoát khỏi cái đói, và dường như đó cũng là một chiếc đồng hồ của đứa cháu để nhắc bà rằng: Bà ơi, đến giờ bà kể chuyện cho cháu nghe rồi đấy! Từ “tu hú” được điệp lại ba lần làm cho âm điệu câu thơ thêm bồi hồi tha thiết, làm cho người đọc cảm thấy như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác giả. Tiếng tu hú lúc mơ hồ, lúc văng vẳng từ những cánh đồng xa lâng lâng lòng người cháu xa xứ. Tiếng chim tu hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơn, rộng hơn trong cái không gian xa thẳm của nỗi nhớ thương.

Nếu như trong những năm đói kém của nạn đói 1945, bà là người gắn bó với tác giả nhất, yêu thương tác giả nhất thì trong tám năm ròng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tình cảm bà cháu ấy lại càng sâu đậm:

Mẹ cùng cha bận công tác không vềCháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe (…)

Trong tám năm ấy, đất nước có chiến tranh, hai bà cháu phải rời làng đi tản cư, bố mẹ phải đi công tác, cháu vì thế phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy, nhưng dường như đối với đứa cháu như thế lại là một niềm hạnh phúc vô bờ. Ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp. Và trong cái khói bếp chập chờn, mờ mờ ảo ảo ấy, người bà như một bà tiên hiện ra trong câu truyện cổ huyền ảo của cháu. Nếu như đối với mỗi chúng ta, cha sẽ là cánh chim để nâng ước mơ của con vào một khung trời mới, mẹ sẽ là cành hoa tươi thắm nhất để con cài lên ngực áo thì đối với Bằng Việt, người bà vừa là cha, vừa là mẹ, vừa là cánh chim, là một cành hoa của riêng ông. Cho nên, tình bà cháu là vô cùng thiêng liêng và quý giá đối với ông. Trong những tháng năm sống bên cạnh bà, bà không chỉ chăm lo cho cháu từng miếng ăn, giấc ngủ mà còn là người thầy đầu tiên của cháu. Bà dạy cho cháu những chữ cái, những phép tính đầu tiên. Không chỉ thế, bà còn dạy cháu những bài học quý giá về cách sống, đạo làm người. Những bài học đó sẽ là hành trang mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu. Người bà và tình cảm mà bà dành cho cháu đã thật sự là một chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu bé bỏng.

Cho nên khi bây giờ nghĩ về bà, nhà thơ càng thương bà hơn vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùng bà chia sẻ những câu chuyện những ngày ở Huế… Thi sĩ bỗng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà?” Một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ người. Chỉ trong một khổ thơ mà hai từ bà, cháu đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đôi, gắn bó, quấn quýt không rời.

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

bep-lua.jsp

Các loạt bài lớp 9 khác

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *